Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

Xây dựng khung trình độ quốc gia

Sẽ có khung trình độ quốc gia phù hợp với khung trình độ chung của ASEAN, tạo cơ hội thuận lợi cho lao động VN có thể di chuyển trong thị trường lao động ASEAN. 

Đó là thông tin được TS Hoàng Ngọc Vinh, vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ 
GD-ĐT) chia sẻ.

Theo TS Vinh, gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN không chỉ có thuận lợi mà lao động trẻ VN còn phải đối mặt với nguy cơ bị cạnh tranh ngay trên sân nhà ở một số ngành nghề.

* Thưa ông, khung trình độ quốc gia đang được xây dựng như thế nào?

- Khung trình độ quốc gia do Bộ GD-ĐT chủ trì phối hợp cùng Bộ LĐ-TB&XH và một số bộ, ngành liên quan đang xây dựng sẽ thể hiện các bậc trình độ và yêu cầu để làm việc tương ứng với mỗi bậc đào tạo của VN.

Theo dự thảo, khung trình độ quốc gia bao gồm tám bậc, từ chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp đến trình độ tiến sĩ.

Hiện chúng ta đã chia theo các cấp bậc trình độ nhưng chưa rõ ràng, khó hiểu về mỗi bậc trình độ để có thể phân biệt cho nhà sử dụng lao động, cho người học cũng như cho xã hội nói chung.

Vì thế, sự thay đổi lớn nhất khi áp dụng theo khung các trình độ quốc gia đang được xây dựng là mỗi bậc trình độ được mô tả rõ ràng, thống nhất, phù hợp với khung tham chiếu trình độ khu vực ASEAN (AQRF) và của châu Âu (EQF).

* Khung trình độ quốc gia sẽ mang lại lợi ích gì cho người lao động?

- Nhiều năm nay, hệ thống giáo dục - đào tạo chưa gắn chặt giữa văn bằng cấp cho người học và giá trị năng lực thật tương ứng với văn bằng ấy: mục tiêu đào tạo chung chung, việc đăng ký đào tạo, tổ chức thực hiện chương trình, thanh tra, kiểm tra ít khi đi cùng các điều kiện đảm bảo chất lượng, kiểm định cũng như quy trình cấp văn bằng chứng chỉ.

Khi các trình độ không rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến việc học liên thông, học suốt đời cũng như khó khăn cho việc tuyển dụng.

Từ ngày 31-12-2015, các nước trong Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ công nhận tương đương trình độ kỹ năng đào tạo giữa các nước.

Do đó, khi được đánh giá, phân loại theo khung, lao động VN sẽ có cơ hội được công nhận về bằng cấp, trình độ đào tạo trong toàn khu vực và vì thế tránh bị thiệt thòi trong cơ hội việc làm và đãi ngộ.

* Nhiều ý kiến cho rằng cơ cấu lao động đã qua đào tạo của VN đang mất cân đối và có nguy cơ gia tăng khi VN hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN?

- Nếu nhìn vào các quốc gia phát triển thì cơ cấu nhân lực có hình trống, tức là phần ở giữa (trung cấp) phình ra chiếm khoảng 48 đến trên 50.

Còn ở ta hiện nay bức tranh cơ cấu nhân lực (đến quý 3-2015) có phần to nhất của hình chóp là trên 81% chưa được đào tạo kỹ năng. Tức là ta đang thiếu nhiều nhất lao động được đào tạo ở trình độ trung cấp và lao động có kỹ năng.

Do đó trong thời gian tới, chúng ta phải đẩy mạnh đào tạo nhân lực bậc trung. Đồng thời tăng tốc đào tạo kỹ năng nghề cho lực lượng lao động chưa có chuyên môn kỹ thuật đang chiếm tới trên 81% này.

Người lao động trẻ cũng cần thực tế hơn khi lựa chọn bậc đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động.

* Theo ông, lao động VN đã sẵn sàng để có thể di chuyển làm việc trong các nước ASEAN chưa?

- Theo thỏa thuận với các quốc gia ASEAN, yêu cầu lao động phải được đào tạo chuyên nghiệp và nếu thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, sẽ được di chuyển tự do hơn và nhiều cơ hội hơn. Quy định này dành cho lao động tất cả các quốc gia.

Lao động VN sẽ gặp khó khăn về tính tiêu chuẩn của trình độ giáo dục, giấy phép hành nghề, minh chứng được năng lực và kinh nghiệm - bốn yêu cầu cơ bản của mỗi thỏa thuận công nhận.

Trên thực tế, mặt bằng chung trình độ tiếng Anh của lao động VN còn rất thấp. Rất ít lao động trẻ VN chú ý học thêm một ngoại ngữ khác là ngôn ngữ của các quốc gia trong ASEAN.

Theo tôi, những lĩnh vực đang là thế mạnh của lao động VN có thể kể đến: công nghệ thông tin, xây dựng, dịch vụ nhà hàng khách sạn, nha khoa, điều dưỡng...

Tuy nhiên, việc xác định ngành nghề nào là thế mạnh, cũng như “thị phần” trên thị trường mà lao động VN có thể thâm nhập, thì các cơ quan về quản lý việc làm của VN rất cần có nghiên cứu đánh giá, phân tích sâu về thị trường... để công bố rộng rãi cho người lao động có thông tin và sự chuẩn bị.

Về phía các cơ sở giáo dục và đào tạo, nỗ lực nâng cao chất lượng, chuẩn hóa các quy trình đảm bảo chất lượng đào tạo, tăng tốc đào tạo ngoại ngữ và giáo dục luật pháp quốc tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Các trình độ, bằng cấp hiện có sẽ quy đổi như thế nào?

Khung trình độ quốc gia sẽ gồm tám bậc tương ứng với các văn bằng chứng chỉ của các bậc đào tạo như sau: bậc 1, 2, 3 tương ứng với các chứng chỉ nghề cấp 1, 2, 3; bậc 4 tương ứng bậc trung cấp; bậc 5 tương ứng bậc cao đẳng; bậc 6 là trình độ cử nhân; bậc 7 là trình độ thạc sĩ và bậc 8 là trình độ tiến sĩ.

Về phương diện quốc gia, khung trình độ phản ánh đầu vào thị trường lao động và con đường liên thông của người học sẽ là công cụ quan trọng để dự báo và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục - đào tạo và thúc đẩy việc công nhận văn bằng chứng chỉ quốc tế và hợp tác lao động.

>> Cơ hội và nhiều thách thức với lao động Việt Nam

THANH HÀ thực hiện (thanhha@tuoitre.com.vn)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét