Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2016

Chiếc thuyền đặc trưng của vùng biển Trung bộ: Thuyền thúng

 Chiếc thuyền thúng tượng trưng cho bầu trời tròn trùm lên không gian và con người sống trong sự che chở của trời. Nếu là người Việt xa quê hương thì khi ngồi trên một chiếc thuyền thúng, sẽ có cảm giác như được nằm trong lòng quê hương, nghe sóng vỗ thì thầm bên mạn thuyền, như được áp má vào những hàng tre rủ bóng bên bờ sông thơ trẻ.
thung-7
Nước rút (đua thuyền thúng trên biển Hội An)
Dân tộc Việt Nam ngoài nông nghiệp còn sinh sống bằng nghề đánh bắt thủy sản. Nhờ diện tích biển mênh mông và sông ngòi chằng chịt nên việc  đánh bắt cá phát triển và thúc đẩy việc đóng thuyền lớn vươn biển khơi. Do đó ngành thủy binh cũng rất phát triển. Các triều đại Đinh, Lê, Lý Trần, Lê, Nguyễn đều hùng mạnh về thủy binh. Tuy nhiên, chiếc thuyền thúng dường như không góp phần lớn vào nghĩa vụ chiến chinh mà chỉ khiêm nhường trong nhiệm vụ chuyển dịch cá thể như đưa người, vật dụng và nhất là làm nhiệm vụ đánh bắt cá tôm trên sông nước cho từng gia đình.
thung-6
Du khách ngoại quốc chèo thuyền thúng ở Hội An 
Trên sông, thuyền lênh đênh với chiếc cần câu, tấm lưới cùng con người cô đơn. Trên biển, chỉ là con thuyền bé nhỏ đi kèm theo chiếc thuyền mẹ vượt trùng dương ra khơi đánh cá với nhiệm vụ dự bị cứu người khi thuyền mẹ gặp nạn hoặc làm nhiệm vụ giao liên giữa các thuyền lớn. Trên bến, nhiệm vụ của thuyền  thúng rất nhộn nhịp: chuyển cá từ ghe lớn vào bờ; chuyển thực phẩm, nước uống trong bờ ra thuyền lớn …
Tuy nhiên, trên các con sông ở miền Bắc người ta ít thấy những chiếc thuyền thúng qua lại tất bật trên sông nước. Trong khi ở miền Trung đi đến đâu, nơi nào có ngư phủ thì nơi đó có bóng dáng chiếc thuyền thúng xao xuyến trên sóng nước. Do đó mới có một ưc đoán là chiếc thuyền thúng có cội nguồn từ dân tộc Chăm. Thời nhà Trần, dân tộc Chăm với đội thủy binh hùng hậu do Chế Bồng Nga thống lĩnh đã từng đem quân xâm phạm Kinh đô Thăng Long nước Việt. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là ức đoán vì hiện nay rất ít người Chăm sử dụng thuyền thúng và không để lại vết tích những vùng hoạt động bằng thuyền thúng.
thung-3
Ngồi trên thuyền thúng câu mực ban đêm giữa biển khơi 
Các vùng Trung và Nam bộ có nhiều khu rừng tre, dầu rái là những nguyên liệu dùng trong việc chế tạo ra ghe thuyền. Từ đó, chúng ta có thể suy luận là người Việt chuyên nghề sông nước từ khi di dân vào Nam đã biết sử dụng vật liệu địa phương để chế tác và lưu truyền mãi đến ngày nay.Tính sáng tạo đã được người Việt ứng dụng vào nghề đóng ghe thuyền để thích nghi với tình hình sông nước.
Chiếc thuyền thúng tượng trưng cho bầu trời tròn trùm lên không gian và con người sống trong sự che chở của trời. Chiếc thuyền thúng hình tròn dù không đi mau bằng thuyền lá, song chịu được sóng biển luôn xao động. Áp lực sóng không trực tiếp một hướng, nhưng nhờ hình dáng tròn trịa mà lực tấn công của sóng tản ra khắp thân cho nên thuyền thúng ít khi bị đánh chìm. Chiếc thuyền thúng trôi đi nhẹ nhàng nhờ có thân tiếp nước rộng, phẳng. Thuyền như nổi trên mặt nước, đi hướng nào cũng thuận chỉ cần người điều khiển thông thạo. Chèo các thuyền khác, mái chèo thường có 2 nhịp: nhịp dưới nước và nhịp trên không. Chèo thuyền thúng luôn phải có các nhịp chèo tiếp nhau để khoáy nước tạo thành một áp lực đẩy nhằm kéo thuyền về phía trước. Do đó có thể chèo thuyền thúng ở phía sau và ở phía trước mũi thuyền. Điểm yếu của thuyền thúng là diện tích cản  khá lớn nên thuyền không tiến nhanh bằng thuyền lá. Do khuyết điểm này nên thuyền thúng lại thích hợp với sự di chuyển chậm, câu đứng một chổ mà khỏi neo đậu. Một ưu điểm nữa của thuyền thúng là khi không có mái chèo, người điều khiển có thể dùng phương pháp “lắc thúng”. Người lái thuyền hai tay nắm chắc vành thuyền và chồm mình ấn vành thuyền như muốn dìm thuyền và khi vành thuyền kế cận mặt nước thì lại kéo mạnh vành thuyền cho cao lên và tiếp liền động tác dìm thuyền. Lắc thuyền là một động tác chèo thuyền có thể làm thuyền chuyển động theo ý muốn và có thể đi xa hàng cây số (nhiều cuộc thi lắc thuyền thúng được tổ chức vào các ngày lễ hội sông nước).
thung-5
Công đoạn lận thúng ở làng nghề Phú Mỹ 
Phương tiện thuyền thúng giúp rất nhiều việc cho người sử dụng. Trên sông nước giúp người đi lại hành nghề đánh lưới cá. Trên bờ giúp che nắng che mưa. Khi di chuyển trên bộ, thuyền thúng được người sử dụng gánh di chuyển rất gọn gàng. Một khúc gổ bắc ngang miệng thúng làm cây đòn gánh là có thể từ bờ nước đi về nhà hay từ nhà ra đến bờ nước.
thung-2
Băng băng về đích 
Chiếc thuyền thúng rất đơn giản cho nên bất cứ dân tộc nào sống với sông nước cũng có thể chế tạo để tiện dụng trong sinh họat. Cho nên chúng ta không thể xác định rằng thuyền thúng là do ai làm ra đầu tiên và ai đã bắt chước nó. Chúng ta chỉ biết chắc chắn là hiện nay ngư dân Việt Nam chủ yếu tại miền Trung dùng thuyền thúng trong sinh hoạt trên nước là nhiều nhất.
thung-4
Công đoạn hoàn thiện thuyền thúng ở làng nghề Phú Mỹ 
Sử dụng thuyền thúng  ngoài phạm vi sinh sống trong việc săn bắt thủy sản ,  di chuyển trên sông, thuyền thúng còn lan sang đến dịch vụ thể thao & du lịch. Do đó, từ dịch vụ đóng thuyền thúng cho ngư dân còn có dịch vụ xuất khẩu thuyền thúng ra nước ngoài. Công nghệ đóng thuyền ở nước ngoài rất tân tiến, vật liệu bằng composide có độ bền hơn tre nứa, làm nhanh hơn, giá rẻ hơn song mỹ thuật không bằng thuyền thúng đan bằng tre và trét dầu rái.
thung-1
Quét dầu rái thuyền thúng ở làng nghề Phú Mỹ 
thung-9
Sản phẩm thuyền thúng của người dân thôn Phú Mỹ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 
Ngồi thong dong trên chiếc thuyền đan tre, phảng phất mùi dầu rái hăng hăng, tay chạm vào vành thuyền có độ láng bóng theo tháng năm (càng lâu năm nước bóng càng sâu đậm). Nếu là người Việt xa quê hương thì khi ngồi trên một chiếc thuyền thúng sẽ có cảm giác như được nằm trong lòng quê hương nghe sóng vỗ thì thầm bên mạn thuyền, như được áp má vào những hàng tre rủ bóng bên bờ sông thơ trẻ, như sờ đụng vào vành nôi làm bằng tre hay những chiếc vạt giường trên chiếc chõng tre kê nơi đầu hiên ngày hè!
QUÁCH GIAO

Xem thêmKhách sạn Lý Sơn
Đảo Lý Sơn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét